Giỏ hàng ( 0 ) Liên hệ Sơ đồ website
DANH MỤC SẢN PHẨM


DỰ ÁN KIDBOOKS

HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN
Sach Viet Co
Skype Me™!
Sach Viet Manager

THĂM DÒ Ý KIẾN

QUẢNG CÁO
http://www.minhlongbook.com.vn/trang-chu/index.htm
http://www.artsign.vn/vn/about.html
http://www.stb.com.vn
http://www.fahasasg.com.vn/
http://www.thanglong.com.vn

LIÊN KẾT WEBSITE

THỐNG KÊ
Lượt truy cập:
687341
Online:
3
Giới thiệu sách

Giới thiệu quyển sách “Những bài văn mẫu nghị luận xã hội 9”
 
Trong chương trình Ngữ Văn Trung học cơ sở, phần môn tập làm văn đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp các tri thức cơ bản về các kiểu văn bản, hình thành các kĩ năng nói ( kể chuyện, tóm tắt), hiểu khái quát về văn bản và bố cục chung của nó. Bản thân hoạt động tập làm văn là một hoạt động tích hợp, tích hợp tri thức văn bản đọc - hiểu Tiếng Việt vào việc tạo lập các văn bản mới.

Chương trình tập làm văn đặt trọng tâm ở thực hành: xây dựng bài qua thực hành, thực hành nhận biết và thực hành làm văn bản. Do đó, điểm mới và khó trong chương trình ngữ văn lần này là phương pháp dạy thực hành. Tuy sách giáo khoa đã đưa nhiều câu hỏi và tình huống hoạt động, song giáo viên và học sinh vẫn phải tự nghiên cứu thêm để bổ sung, điều chỉnh và làm phong phú cho hoạt động dạy và học.
Quyển sách này được biên soạn là nhằm mục đích giúp cho giáo viên và học sinh có thêm tài liệu trong việc dạy và học phân môn tập làm văn, đặc biệt là văn nghị luận với hai thể loại: nghị luận về một việc, hiện tượng đời sống và nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí.

Nội dung quyển sách gồm ba phần:

   + Phần 1: Nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống (gồm 15 đề)
   + Phần 2: Nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí (gồm 26 đề)
   + Phần 3: Các đề thi tuyển sinh 10 THPT – NLXH (gồm 18 đề)

Đặc biệt đây là lần đầu tiên áp dụng Bản đồ tư duy vào việc phân tích dàn bài. Đây là một trong những phương pháo đổi mới dạy và học giúp học sinh dễ dàng và hứng thú trong việc viết văn. Đề tài “ Dạy văn bằng bản đồ tư duy|” đã đạt giải Nhì “ Giải thưởng Khoa học Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh năm 2009”. Bản đồ tư duy cũng được sử ủng hộ nhiệt tình của tiến sĩ Huỳnh Công Minh, Giám đốc sở GD – ĐT TP Hồ Chí Minh và Tiến sĩ Hồ Thiện Hùng, Nguyên giám đốc Sở GD – ĐT TP Hồ Chí Minh

 PHẦN I: NGHỊ LUẬN VỀ MỘT SỰ VIỆC, HIỆN TƯỢNG ĐỜI SỐNG


Đề 1: Bác Hồ là lãnh tụ vĩ đại của nhân dân Việt Nam, anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới.
Hãy viết bài văn nêu suy nghĩ của em về Người.

Đề 2: Nước ta có nhiều tấm gương vượt lên số phận, học tập thành công (như anh Nguyễn Ngọc Kí bị hỏng tay, dùng chân viết chữ ; anh Hoa Xuân Tứ bị cụt tay, dùng vai viết chữ ; anh Đỗ Trọng Khơi bị bại liệt đã tự học, trở thành nhà thơ ; anh Trần Văn Thước bị tai nạn lao động, liệt toàn thân đã tự học, trở thànhnhà văn,…). Lấy nhan đề “Những người không chịu thua số phận”, em hãy viết bài văn nêu suy nghĩ của mình về những con người ấy.

Đề 3: Việt Nam tuy điều kiện kinh tế hạn chế, cơ sở vật chất chưa phát triển, nhưng đã có nhiều học sinh đọat huy chương vàng tại các cuộc thi quốc tế về toán, lí, ngoại ngữ,… Năm 2004, sinh viên Việt Nam lại đọat giải vô địch cuộc thi Robocon châu Á tại Hàn Quốc. Hãy viết bài văn nêu suy nghĩ của em về hiện tượng đó.

Đề 4: Một hiện tượng khá phổ biến hiện nay là vứt rác ra đường hoặc những nơi công cộng. Ngồi bên hồ, dù là hồ đẹp nổi tiếng, người ta cũng tiện tay vứt rác xuống… Em hãy đặt một nhan đề để gọi ra hiện tượng ấy và viết bài văn nêu suy nghĩ của mình.

Đề 5: Hãy chứng minh rằng đời sống của chúng ta sẽ bị tổn hại rất lớn nếu mỗi người không có ý thức bảo vệ môi trường sống.

Đề 6: Suy nghĩ về trang phục.

Đề 7: Suy nghĩ về việc sai hẹn.

Đề 8: Suy nghĩ về buổi lễ chào cờ.

Đề 9: Suy nghĩ về tác phong, lối sống.

Đề 10: Suy nghĩ của em về cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Đề 11: Đọc mẩu chuyện sau đây và nêu những nhận xét, suy nghĩ của em về con người và thái độ học tập của nhân vật:
             Nguyễn Hiền nhà rất nghèo, phải xin làm chú tiểu trong chùa. Việc chính là quét là và dọn dẹp vệ sinh. Nhưng cậu rất thông minh và ham học. Những buổi thầy giảng kinh, cậu đều nép bên cửa lắng nghe, rồi chỗ nào chưa hiễu, cậu hỏi thầy giảng thêm. Thấy Nguyễn Hiền thông minh, mau hiểu, thầy dạy cho cậu học chữ. Không có giấy, Nguyễn Hiền lấy lá để viết chữ, rồi lấy que tre xâu thành từng xâu ghim xuống đất. Mỗi ghim là một bài.
Một hôm Nguyễn Hiền xin thầy cho đi thi. Thầy ngạc nhiên bảo:
            - Con đã học tập được bao nhiêu mà dám thi thố với thiên hạ?
            - Con xin thi thử xem sức học của mình đến đâu.
Năm ấy, Nguyễn Hiền đã đỗ trạng nguyên. Vua Trần cho Nguyễn Hiền còn nhỏ quá, mới 12 tuổi, nên không bổ dụng.
Một thời gian sau, vua có việc tiếp sứ giả nước ngoài, cho gọi Nguyễn Hiền về triều. Nguyễn Hiền bảo:
            - Đón trạng nguyên mà không có võng lọng sao? Ông về tâu với vua xin cho đầy đủ nghi thức.
Vua đành cho các quan mang võng lọng rước quan Trạng tí hon về kinh.
                                                                                      (Theo Cửu Thọ, Một trăm gương tốt thiếu nhi Việt Nam, NXB Trẻ, TP.Hồ Chí Minh, 1999)

Đề 12: Cho đề bài:
             Báo đưa tin :”Bạn Phạm Văn Nghĩa, học sinh lớp 7 trường Trung học cơ sở Bắc Sơn, quận Gò Vấp, nhà ở Hóc Môn. Nghĩa thường ra đồng giúp mẹ trồng trọt.
Một hôm, mẹ thấy Nghĩa cầm tờ giấy hứng cái gì, mẹ hỏi :”Con làm gì đấy ?”. Nghĩa trả lời :”Con thụ phấn cho bắp”. Vụ ấy ruộng bắp nhà Nghĩa năng suất cao hơn mọi năm.
Ở nhà Nghĩa còn nuôi gà, nuôi heo. Em còn làm một cái tời để mẹ kéo nước đỡ mệt.
Thành đoàn Thành phố Hồ Chí Minh đã phát động phong trào “Học tập Phạm Văn Nghĩa”. Phong trào ấy được các bạn học sinh nhiệt liệt hưởng ứng”.

Em hãy nêu suy nghĩ của mình về hiện tượng ấy.

Đề 13: Hiện nay có một số học sinh học qua loa, đối phó, không học thật sự. Em có suy nghĩ gì về bản chất của lối học đối phó để nêu lên những tác hại của nó.

Đề 14: Trò chơi điện tử là món tiêu khiển hấp dẫn. Nhiều bạn vì mải chơi mà sao nhãng học tập và còn phạm những sai lầm khác. Hãy nêu ý kiến của em về hiện tượng đó.

Đề 15: Chất độc màu da cam mà đế quốc Mĩ đã rải xuống các cánh rừng miền Nam thời chiến tranh đã để lại di họa nặng nề cho hàng chục vạn gia đình. Hàng chục vạn người đã chết. Hàng vạn trẻ em chịu tật nguyền suốt đời. Cả nước đã lập quỹ giúp đỡ các nạn nhân phần nào cải thiện cuộc sống và xoa dịu nỗi đau của họ. Em hãy nêu suy nghĩ của mình về các sự kiện đó.

 PHẦN II: NGHỊ LUẬN VỀ MỘT VẤN ĐỀ TƯ TƯỞNG, ĐẠO LÍ

Đề 1: Suy nghĩ từ truyện ngụ ngôn Đẽo cày giữa đường.

Đề 2: Đạo lí Uống nước nhớ nguồn.

Đề 3: Bàn về tranh giành và nhường nhịn.

Đề 4: Đức tính khiêm nhường.

Đề 5: Nhân dân ta thường nói : “Có chí thì nên”. Em có suy nghĩ gì về câu tục ngữ đó.

Đề 6: Suy nghĩ về đức tính trung thực.

Đề 7: Tinh thần tự học.

Đề 8: Hút thuốc lá có hại.

Đề 9: Lòng biết ơn thầy, cô giáo.

Đề 10: Suy nghĩ từ câu ca dao :
                         Công cha như núi Thái Sơn
             Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.


Đề 11: Suy nghĩ về nhận định : Tri thức là sức mạnh

Đề 12: Suy nghĩ về nhận định : Thời gian là vàng.

Đề 13: Suy nghĩ về sự thành đạt.

Đề 14: Suy nghĩ về lòng khiêm tốn và sự tự ti.

Đề 15: Suy nghĩ về lòng dũng cảm và sự liều lĩnh.

Đề 16: Suy nghĩ về câu ca dao :
                           “Nhiễu điều phủ lấy giá gương
              Người trong một nước phải thương nhau cùng.


Đề 17: Suy nghĩ về tầm quan trọng của việc đọc sách.

Đề 18: Suy nghĩ về bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy.

Đề 19: Suy nghĩ về những con người trong Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long.

Đề 20: Suy nghĩ về tầm quan trọng của việc  học.

Đề 21: Suy nghĩ về lời khuyên của Bác Hồ :
            ”Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời.

Đề 22: Suy nghĩ về lòng khoan dung.

Đề 23: Suy nghĩ về tính chân lí trong bài thơ :
             Không có việc gì khó
             Chỉ sợ lòng không bền  
             Đào núi và lấp biển  
             Quyết chí ắt làm nên.
                                           (Hồ Chí Minh)

Đề 24
: Suy nghĩ về chân lí : Lao động quý như vàng

Đề 25: Suy nghĩ về lòng nhân đạo.

Đề 26: Suy nghĩ về hạnh phúc.

PHẦN III: CÁC ĐỀ THI TUYỂN SINH 10 THPT - NGHỊ LUẬN XÃ HỘI


Đề 1: Viết một văn bản nghị luận (không quá một trang giấy thi) trình bày suy nghĩ về đức hy sinh.

Đề 2: Viết văn bản nghị luận (không quá một trang giấy thi) về chủ đề quê hương.

Đề 3: Thể hiện mình là một nhu cầu của lứa tuổi học sinh. Hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 01 trang giấy thi) trình bày suy nghĩ của em về cách thể hiện bản thân trong môi trường học đường.

Đề 4: Viết một đoạn văn nghị luận (tối đa 20 dòng) về chủ đề "Tình yêu thương".

Đề 5: Giữa một vùng sỏi đá khô cằn, có những loài cây vẫn mọc lên và nở những chùm hoa thật đẹp.
       Viết một văn bản nghị luận (không quá hai trang giấy thi) nêu suy nghĩ của em được gợi ra từ hiện tượng trên.

Đề 6: Macxim Gorki có viết : " Sách mở rộng ra trước mắt tôi những chân trời mới".
Giải thích câu nói trên. Sách đã mở cho em : " những chân trời mới" như thế nào.

Đề 7: “Bước vào thế kỉ mới,... nếp nghĩ sùng ngoại hoặc bài ngoại quá mức đều sẽ cản trở sự phát triển của đất nước”. (Vũ Khoan, Chuẩn bị hành trang vào thế kỷ mới).
Suy nghĩ của em về vấn đề trên.

Đề 8 : Nơi dựa
            Người đàn bà nào dắt đứa nhỏ đi trên đường kia ?
            Khuôn mặt trẻ đẹp chìm vào những miền xa nào...
            Đứa bé đang lẫm chẫm muốn chạy lên, hai chân nó cứ ném về phía trước, bàn tay hoa hoa một điệu múa kì lạ.
            Và cái miệng líu lo không thành lời, hát một bài hát chưa từng có.
            Ai biết đâu, đứa bé bước còn chưa vững lại chính là nơi dựa cho người đàn bà kia sống.
            Người chiến sĩ nào đỡ bà cụ trên đường kia ?
            Đôi mắt anh có cái ánh riêng của đôi mắt đã nhiều lần nhìn vào cái chết.
            Bà cụ lưng còng tựa trên cánh tay anh, bước từng bước run rẩy.
            Trên khuôn mặt già nua, không biết bao nhiêu nếp nhăn đan vào nhau, mỗi nếp nhăn chứ đựng bao nỗi cực nhọc gắng gỏi một đời.
            Ai biết đâu, bà cụ bước không còn vững lại chính là nơi dựa cho người chiến sĩ kia đi qua những thử thách.
                                                                                                                                           (Nguyễn Đình Thi, Tia nắng, NXB Văn học, Hà Nội, 1983)

Từ ý nghĩa văn bản trên, hãy trình bày suy nghĩ của em về nơi dựa  của mỗi người trong cuộc sống.

Đề 9: Cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh là nguồn cảm hứng vô tận cho sáng tạo nghệ thuật. Mở đầu tác phẩm của mình, một nhà thơ viết:
           Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác...
           Và sau đó, tác giả thấy:
           ...Bác nằm trong giấc ngủ bình yên
           Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền
           Vẫn biết trời xanh là mãi mãi
           Mà sao nghe nhói ở trong tim!...

           Dựa vào khổ thơ trên, hãy viết một đoạn văn khoảng 10 câu theo phép lập luận quy nạp (có sử dụng phép lặp và có một câu chứa thành phần phụ chú) để làm rõ lòng kính yêu và niềm xót thương vô hạn của tác giả đối với Bác khi vào trong lăng.

Đề 10: Trong bài thơ Đồng chí, Chính Hữu đã viết rất xúc động về người chiến sĩ thời kháng chiến chống Pháp:
            (...) Ruộng nương anh gửi bạn thân cày
            Gian nhà không, mặc kệ gió lung lay
           Giếng nước gốc đa, nhớ người ra lính
            Anh với tôi, biết từng cơn ớn lạnh
            Sốt run người, vừng trán ướt mồ hôi
            Áo anh rách vai, quần tôi có vài mảnh vá
           Miệng cười buốt giá
           Chân không giầy
           Thương nhau tay nắm lấy bàn tay (...)

Dựa vào đoạn thơ trên, hãy viết một đoạn văn (khoảng 10 câu) theo cách lập luận tổng hợp – phân tích – tổng hợp trong đó có sử dụng phép thế và một phủ định để làm rõ sự đồng cảm, sẻ chia giữa những người đồng đội. (Gạch dưới câu phủ định và những từ ngữ dùng làm phép thế).

Đề 11: Hình ảnh mùa xuân được khắc hoạ thật đẹp trong đoạn thơ sau:
            “Mọc giữa dòng sông xanh
            Một bông hoa tím biếc
            Ơi con chim chiền chiện
            Hót chi mà vang trời
            Từng giọt long lanh rơi
            Tôi đưa tay tôi hứng”

Dựa vào đoạn thơ trên, em hãy viết một đoạn văn khoảng 10-12 câu theo cách lập luận tổng hợp - phân tích - tổng hợp, trong đó có sử dụng phép nối và một câu chứa thành phần tình thái với chủ đề: vẻ đẹp của mùa xuân, thiên nhiên và cảm xúc của nhà thơ trước vẻ đẹp ấy (gạch dưới thành phần tình thái và những từ ngữ dùng làm phép nối).

Đề 12: Chỉ ra sự khác nhau về kiểu bài nghị luận trong hai đề văn sau :
             Đề 1:   Suy nghĩ của em về hiện tượng một bộ phận không nhỏ thanh niên thời nay lười học, sa vào các tệ nạn xã hội.  
             Đề 2: Để chuẩn bị hành trang vào thế kỉ XXI, theo Vũ Khoan :”Sự chuẩn bị bản thân con người là quan trọng nhất”. Suy nghĩ của em về vấn đề đó.
Chọn hai đề trên để viết văn bản (dài không quá một trang giấy thi), trong đó có sử dụng khởi ngữ, một thành phần biệt lập và phép liên kết nối (gạch chân xác định).

Đề 13: Từ sự cảm nhận về hai bài thơ Bếp lửa (Bằng Việt) và Nói với con (Y Phương), em hãy trình bày suy nghĩ về ý nghĩa của tình cảm gia đình.

Đề 14: Mùa hè là mùa thú vị nhất đối với lứa tuổi học trò. Em sẽ làm gì để có được một mùa hè thực sự vui tươi và bổ ích ?
(Viết thành một đoạn văn hoặc một bài văn ngắn không quá 20 dòng).

Đề 15: Viết đoạn văn ngắn (từ 7 đến 10 câu ) nêu nhận xét về nghệ thuật tả cảnh thiên nhiên của Nguyễn Du trong đoạn thơ sau:
            "Ngày xuân con én đưa thoi
            Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi
            Cỏ non xanh tận chân trời
            Cành lê trắng điểm một vài bông hoa".
                                                          (Truyện Kiều)


Đề 16: Cho đoạn trích:
Con bé thấy lạ quá, nó chớp mắt nhìn tôi như muốn dò hỏi đó là ai, mặt nó bỗng tái đi, rồi vụt chạy và kêu thét lên :"Má! Má!. Còn anh, anh đứng sững lại đó, nhìn theo con, nỗi đau đớn khiến mặt anh sầm lại trông thật đáng thương và hai tay buông xuống như bị gãy"
                                                                                                                                                       (Ngữ văn 9, tập một, NXB Giáo dục 2009, tr.196)
Hãy viết một đoạn văn nghị luận khoảng 12 câu theo phép lập luận quy nạp làm rõ tình cảm sâu nặng của người cha đối với con trong tác phẩm trên, trong đoạn văn có sử dụng câu bị động và phép thể (gạch dưới câu bị động và những từ ngữ dùng làm phép thể)

Đề 17: Tự lập là một trong những yếu tố cần thiết làm nên sự thành công trong học tập cũng như trong cuộc sống.
            Hãy viết một đoạn văn hoặc một bài văn ngắn (khoảng 20 dòng) trình bày suy nghĩ của em về tính tự lập của các bạn học sinh hiện nay.

Đề 18: Suy nghĩ của em về câu tục ngữ: Có chí thì nên.

 



Giới thiệu sách khác
» Giới thiệu quyển sách “Những bài văn mẫu nghị luận - chứng minh - giải thích 7 ” (21/5/2011, 10:30 pm)
» Giới thiệu Bộ sách “Kiểm tra định kỳ Tiếng Việt và Toán từ lớp 1 đến lớp 5” (21/5/2011, 10:02 pm)

© 2010 Bản quyền thuộc SACHVIETCO
Địa chỉ: 391/15A Huỳnh Tấn Phát, Phường Tân Thuận Đông, Quận 7, TPHCM.
Điện thoại: (08) 38720897 - Fax: (08) 38726052.
Email : info@sachvietco.com